Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu

Thông tin

    Dữ liệu đang được cập nhật ...!

Mô tả

Nơi đây, cậu bé Cao Văn Lầu cất tiếng khóc chào đời, về sau trở thành một nhạc sĩ tài hoa, đã sáng tác bài “Dạ cổ hoài lang” bất hủ, chẳng những sống mãi với thời gian, mà còn tạo tiền đề cho các thế hệ văn nghệ sĩ về sau phát triển thành bài Vọng cổ đầy tính sáng tạo, độc đáo trong hơi điệu âm nhạc cũng như ca từ, làm cho nhạc mục đờn ca tài tử và sân khấu cải lương Nam bộ thêm phong phú, hấp dẫn.

Năm 1896, thấy không thể sống nổi dưới chế độ hà khắc về kinh tế, chính trị của thực dân Pháp và bọn tay sai vợ chồng cụ Chín Giỏi dẫn 5 người con của mình, cùng với 20 hộ láng giềng giang ghe thương hồ, tiếp tục cuộc hành trình về phương nam. Lúc bấy giờ người nhạc sĩ tương lai Cao Văn Lầu mới lên 4 tuổi. Tuy tuổi còn thơ ấu, nhưng cậu bé Cao Văn Lầu có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh, lại được đắm mình trong môi trường hoạt động văn hoá văn nghệ dân gian của gia đình và cộng đồng làng xã, nhất là sự ảnh hưởng trực tiếp từ người bác ruột và cha mình.

Năm 1908, ông Cao Văn Lầu học nhạc tại nhà thầy Hai Khị Nhờ có chút vốn hiểu biết và kỷ năng âm nhạc ban đầu do cha truyền dạy và sự đam mê, chăm chỉ học hỏi, nhạc sanh Cao Văn Lầu mau chóng sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ như đờn tranh, cò, kìm, trống lễ; và trở thành một nhạc sĩ nòng cốt trong ban cổ nhạc của thầy.

Năm 1912, ngoài việc giữ vai trò nòng cốt trong ban ĐCTT Bạc Liêu, với lực lượng hùng hậu gồm các nghệ sĩ: Sáu Lầu đờn tranh, Mười Khói đờn kìm, Bảy Cuội đờn cò, Hai Tài đờn đoản, Ba Chột đờn sến, và các ca sĩ Bảy Kiên, Hai Húc, Chín Cang, Năm Mỹ, Thầy giáo So, Ba Chương (cô ba Vàm Lẻo), Chín Quy, cô Hai The..., nhạc sĩ Cao Văn Lầu còn bắt đầu sự nghiệp sáng tác bài bản mới cho ĐCTT và SKCL Nam bộ. Tác phẩm do ông sáng tác không nhiều, có thể kể đến một số bài như: “Giọt mưa đêm”, “Minh loan thưởng nguyệt”, “Chiếc hoa”, “Oanh vàng”, “Mai xuân”, “Bái đường”, “Long châu”,“Ái cầm”, “Tơ vàng”, “Chim chiều”, “Hậu đình lê”. Nhưng đặc biệt bài “Dạ cổ hoài lang” (DCHL) là tác phẩm có một không hai đã gợi ý cho các nghệ sĩ về sau sáng tạo, phát triển không ngừng. Từ việc mở nhịp 2 ra nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16 đến nhịp 32, đến cấu trúc lại từ 20 câu, còn 6 câu, rồi đổi tên ban đầu là “Dạ cổ hoài lang” thành “Vọng cổ hoài lang” (nhịp 4) và “Vọng cổ” (nhịp 8, 16, 32) mà ngày nay nó được sử dụng phổ biến nhất trong giới ĐCTT và SKCL. Do đó, có thể nói nhờ bài “DCHL” về sau được phát triển thành bài “Vọng cổ 6 câu” mà nhạc sĩ Cao Văn Lầu trở thành một trong những tên tuổi lớn trong giới ĐCTT và SKCL Nam bộ.

Di tích lịch sử văn hoá Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu hiện còn lưu giữ di tích gốc là nền nhà cũ của gia đình và khu mộ của dòng họ Cao Văn Lầu, trong đó tiêu biểu là mộ ông Cao Văn Mới (ông nội của nhạc sĩ – trưởng tộc nhánh họ Cao này ở Thuận Mỹ) và mộ ông Cao Văn Soi (bác ruột của nhạc sĩ – người có công dưỡng nuôi và trao truyền vốn văn hoá nghệ thuật dân tộc cho ông Cao Văn Giỏi, thân phụ của nhạc sĩ). Ngoài ra, công trình này còn đang trong tiến trình đầu tư xây dựng nhà lưu niệm và các hạng mục liên quan.

Di tích có Di tích có tổng diện tích khoanh vùng bảo vệ là 14.086,7 m2 (trong đó: Khu vực I là 106 m2; khu vực II là 13.980,7 m2).  Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu được UBND tỉnh Long An xếp hạng là di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 5293/QĐ-UBND ngày 30/5/2024.

Bản đồ

Dữ liệu đang được cập nhật ...!

Để lại bình luận

Chia sẻ thông tin

Đánh giá

0,0/5 (Tổng: 0 lượt đánh giá
1 sao
0%
2 sao
0%
3 sao
0%
4 sao
0%
5 sao
0%